
DIVINI CULTUS
(Sự thờ phượng Thiên Chúa)
James Hansen
(Thạc sĩ giáo dục và điểu khiển hợp xướng,
giáo
sư viện đại học
Năm 2007, nhà xuất bản OCP (Hoa Kỳ) ấn hành một tập sách mỏng nhan đề The Song of the Assembly (Cộng đoàn ca hát) gồm 23 bài viết ngắn diễn giải các văn kiện của Hội Thánh liên quan đến thánh nhạc, đặc biệt chú trọng đến những vấn đề thực tiễn trong việc tham dự tích cực của cộng đoàn vào phụng vụ. Ủy ban Thánh nhạc/HĐGMVN xin giới thiệu bài viết thứ hai của tập tiểu luận này 1.
Đức Giáo hoàng Pi-ô XI (1857-1919) ban hành tông hiến Divini Cultus (Sự thờ phượng Thiên Chúa) vào năm 1928, tức năm thứ sáu triều đại của người (1922-1939) và là thời điểm giữa hai cuộc Thế chiến. Văn kiện này ra đời khi trong lòng Hội Thánh đang có một cuộc canh tân thần học, một phong trào hoạt động xã hội, một hiệp hội Công Giáo Tiến Hành, một hiệp hội nghiên cứu Kinh Thánh, một phong trào đại kết và một phong trào phụng vụ. Tất cả những hoạt động này diễn ra trong khi nhiều người còn đang lo lắng vì cơn khủng hoảng do thuyết Duy Tân (Modernism) đem lại.
Hiến chế Sự thờ phượng Thiên Chúa (xin dịch tắt là hiến chế Phượng tự – HCPT) trân trọng tưởng nhớ và phát triển công việc trước đó của Đức Pi-ô X (1903-1914), vị giáo hoàng đã thấy việc tham dự tích cực của tín hữu là “nguồn mạch hàng đầu và thiết yếu” để có được “tinh thần Ki-tô giáo đích thực” (Tự sắc Tra le Sollecitudini, Dẫn nhập) và từ đó có được sự canh tân nội tâm trong Hội Thánh.
Hợp lời với vị tiền nhiệm, Đức Pi-ô XI cổ võ một ý tưởng mà ngài sẽ quảng diễn sau đó: “việc tham dự tích cực” vào phụng vụ của Hội Thánh là nguồn mạch chính yếu trào tuôn lòng đạo đức của các tín hữu (HCPT, đoạn 3). Tuy hết lòng nhìn nhận cũng như khen ngợi sự thông thái và các sáng kiến cải cách của Đức Pi-ô X tiền nhiệm, Đức Pi-ô XI có những ý kiến riêng của ngài.
Sau khi duyệt qua mấy nguyên tắc căn bản về phụng vụ, tác giả tông hiến nhanh chóng nói đến vai trò quan trọng của âm nhạc trong việc cầu nguyện. Ngài nhắc lại các truyện xưa nói về sức mạnh và ảnh hưởng của thánh ca. Giữa biết bao tích cũ về hoàng đế Valens, thánh Basilio, thánh Ambrosio và thánh Augustino toả ngời lên một chân lý mà Đức Pi-ô XI muốn triển khai: “Lịch sử cho ta thấy rằng trong các đại thánh đường xa xưa, nơi giám mục cùng giáo sĩ và giáo dân đối đáp những lời ca ngợi Thiên Chúa, thánh ca phụng vụ đã giữ một vai trò không nhỏ trong việc hoán cải nhiều dân man di theo đạo Ki-tô và đến với nền văn minh” (HCPT, đoạn 3). Tư tưởng thần học này nhắc chúng ta nhớ lại rằng toàn bộ phụng vụ mang tính đối thoại. Việc cao rao hay tung hô, tức cái khung của nghi lễ phụng tự, là cốt lõi của tác động chuyển hoá con người trong phụng vụ.
Đức Pi-ô X cho rằng điều đem lại sức mạnh hoán cải con người trở lại với Chúa và nuôi dưỡng đời sống cộng đoàn ngày một thêm phong phú chính là phụng vụ thánh nhạc, cụ thể là sự đối đáp giữa giám mục, linh mục và cộng đoàn. Đức Thánh cha chia sẻ một cảm nghiệm riêng rằng tín hữu “ngày càng sốt sắng” tham gia vào việc hát thánh vịnh và các lời nguyện chung khác trong phụng vụ (đoạn 5).
Cái nhìn này có được sau khi đã có những mất mát. Tông hiến lưu ý rằng cần phải duy trì các luật lệ kiểm soát sự quân bình của các bộ môn nghệ thuật xét như các đầy tớ của phụng vụ. Nơi nào thế quân bình này mất đi thì cần phải lập lại. Văn kiện đưa ra các huấn thị được soạn thảo nhằm đáp ứng các nhu cầu của các giám mục và những người quan tâm đến việc nâng cao phụng vụ (đoạn 9).
Các chủng sinh, do tuổi còn trẻ và dễ dạy dỗ uốn nắn, cần phải được thường xuyên “hầu như hàng ngày” học tập hoặc thực hành thánh nhạc và thánh ca (đoạn 10). Nếu được thực hiện “trong tinh thần phụng vụ”, những nỗ lực này sẽ được các chủng sinh hoan nghênh vì nhờ vậy họ có được một môn học thư giãn bên cạnh những môn học căng thẳng. Tông hiến cũng yêu cầu xem xét lại việc hát kinh Thần Vụ trong các nhà thờ lớn và các tu viện (đoạn 11).
Chừng mười năm qua, chúng ta có nghe đây đó mỉa mai về “những kẻ khủng bố phụng vụ” và đi kèm là “cảnh sát phụng vụ”. Có lẽ kiểu nói ám chỉ đầy nghi hoặc này phát xuất từ đoạn văn tiếp theo của tông hiến Phượng tự. Đức Pi-ô XI yêu cầu “mỗi kinh sĩ hội hoặc ca đoàn tu sĩ” phải có một người chuyên trách kiểm soát để những lỗi hát sai phải được chỉnh sửa, các qui chế phải có hiệu lực, các ca viên phải thông thạo nghệ thuật hát xướng, và các bản văn cùng ký âm phải nghiêm chỉnh (đoạn 12).
Một điều mới mẻ trong tông hiến là yêu cầu thành lập các ca đoàn, thậm chí mở các trường dạy hát cho nam thiếu niên (đoạn 14). Về logic, lấy nhãn quan thời nay ra mà nhận xét thì có phần thiếu công bằng, nhưng phải nói rằng hai lý do không thoả đáng mà tông hiến đưa ra là:
1. Giọng kim của các cậu thiếu niên tốt hơn giọng nữ.
2. Vì Giovanni da Palestrina (1525-1594) khởi đầu đời sống âm nhạc trong một trường dạy hát ở thế kỷ XVI, nên chúng ta có thể hy vọng đạt được kết quả như thế bằng cách khuyến khích các cậu thiếu niên vào các trường tương tự.
Suốt đời, tôi đã thưởng thức các đĩa nhạc thánh ca hợp xướng giọng thiếu niên, thế nhưng ý tưởng giảm thiểu như trên khiến tôi bối rối lắm.
Đức Thánh cha Pi-ô XI đề cao thanh nhạc (giọng người) và không khuyến khích việc sử dụng các nhạc khí (đoạn 15). Thứ tự các giọng hát được khẳng định một lần nữa - “giọng của linh mục, của ca đoàn và của cộng đoàn” - có lẽ là để nhấn mạnh thêm nguyên tắc đối thoại được nêu ra ở phần đầu văn kiện. Tuy không ủng hộ âm nhạc do nhạc cụ trình tấu, Đức Thánh cha mạnh mẽ cổ võ việc sử dụng quản cầm (organ), dù để đệm hát hay để đơn diễn tấu (solo). Người lưu ý rằng phải tránh đưa những yếu tố trần tục vào thiết kế của phong cầm (có lẽ Đức Thánh cha muốn nói đến những hiệu quả âm thanh thịnh hành của phong cầm kịch trường thời bấy giờ) và tránh sử dụng “các hình thể âm nhạc hiện đại”. Tuy nhiên, người tin chắc rằng “âm hưởng đường bệ huy hoàng” của loại nhạc cụ này diễn tả được sự thánh thiện của các nghi lễ (đoạn 16).
Tông hiến Phượng tự đưa ra lời yêu cầu mạnh mẽ sau cùng: việc hát thánh ca là phương thế hữu hiệu để cộng đoàn tham gia vào phụng vụ (đoạn 17). Và một lần nữa, như để đóng ấn tín kết thúc toàn văn kiện, Đức Thánh cha Pi-ô XI nói “họ phải được hát đối đáp với linh mục hoặc ca đoàn.”
Để có được tất cả những chuyển biến được bàn đến, văn kiện kêu gọi chấn hưng giáo dục dưới sự thúc đẩy của Đức giám mục (đoạn 9). Mọi tầng lớp trong cộng đoàn đều có trách nhiệm khuyến khích công cuộc đào tạo này.
Trước khi kết thúc văn kiện, Đức Thánh cha khích lệ việc thành lập các cơ sở góp sức vào việc canh tân thánh nhạc.
----------------
1 Bài này đã đăng trên Hương Trầm số 8 (tháng 8/2008)