Thánh nhạc » Hướng Dẫn Mục Vụ
Về Thông điệp “Mediator Dei”

MEDIATOR DEI

(Đấng trung gian của Thiên Chúa)

Genevieve Glen, OSB

(Đan viện mẫu nữ đan viện Biển Đức Saint Walburga, Colorado,

nhà thơ, tác giả ca từ thánh nhạc,

chuyên viên về bí tích Xức dầu bệnh nhân)

Năm 2007, nhà xuất bản OCP (Hoa Kỳ) ấn hành một tập sách mỏng nhan đề The Song of the Assembly (Cộng đoàn ca hát) gồm 23 bài viết ngắn diễn giải các văn kiện của Hội Thánh liên quan đến thánh nhạc, đặc biệt chú trọng đến những vấn đề thực tiễn trong việc tham dự tích cực của cộng đoàn vào phụng vụ. Ủy ban Thánh nhạc/HĐGMVN xin giới thiệu bài viết thứ ba của tập tiểu luận này 1

Thông điệp của Đức Giáo hoàng Pi-ô XII về phụng vụ – Mediator Dei (Đấng trung gian của Thiên Chúa) – ban hành ngày 20.11.1947, có nhiều âm hưởng quen thuộc đối với những người được thừa hưởng hiến chế Sacrosanctum Concilium (hiến chế Phụng vụ – HCPV) của Công đồng Vatican II. Ý tưởng chính của thông điệp là: Hội Thánh tiếp tục công cuộc cứu chuộc của Đức Giê-su Ki-tô, Vị Thượng Tế, chủ yếu qua phụng vụ. Thông điệp phân biệt chức linh mục thừa tác được thông ban qua bí tích Truyền chức Thánh và chức linh mục cộng đồng dành cho mọi tín hữu được thông ban qua bí tích Rửa tội. Chúng ta thường đọc thấy bản tóm tắt định nghĩa về phụng vụ chứa đựng trong thông điệp này: “phụng vụ… là phụng tự công cộng được thực thi bởi toàn Nhiệm Thể Chúa Ki-tô, nghĩa là gồm cả đầu cùng các chi thể của Người” (số 20). Đức Thánh cha Pi-ô XII khen ngợi vì thấy có sự hồi sinh trong việc học hỏi nghiên cứu phụng vụ. Học hỏi giúp tín hữu hiểu biết thêm về di sản phụng vụ và nhờ đó mà tham dự vào phụng vụ cách sâu sắc hơn. Học hỏi cũng giúp tín hữu thấy “rõ nét hơn” sự toàn vẹn của Nhiệm Thể Đức Ki-tô và ý thức hơn về bổn phận của cộng đoàn là “tham dự vào các lễ nghi phụng vụ tuỳ theo vị thế của mình” (5). Thông điệp đưa ra một cái nhìn bao quát về phụng vụ, bàn luận một cách chi tiết không những về hy tế Thánh Thể mà cả những bí tích khác và Phụng vụ các giờ kinh nữa. Sau đó văn kiện mở rộng đến những khía cạnh của việc cầu nguyện cộng đồng vốn được liên kết cách nội tại với phụng vụ, chẳng hạn về năm phụng vụ và những việc sùng kính phép Thánh Thể. Cuối cùng, thông điệp xét đến những việc đạo đức ngoài phụng vụ và những việc đạo đức cá nhân. Tất cả những hình thức cầu nguyện này, nhất là phụng vụ, giữ vai trò then chốt trong việc hình thành nên điều mà Công đồng Vatican II thường gọi là “tinh thần Ki-tô giáo đích thực” trào tuôn từ vẻ đẹp và sự cao trọng nơi chính các nghi lễ được cử hành đúng luật với sự sốt sắng nội tâm của những người tham dự (HCPV 14). Hồi năm 1947, vị thế của giáo dân chỉ cho phép họ giữ một vai trò hạn hẹp trong những hoạt động bề ngoài của phụng tự, vì thế Đức Thánh cha Pi-ô XII nhấn mạnh đến đời sống nội tâm khả dĩ làm sống động việc thờ phượng của mọi tín hữu. Toàn thể Hội Thánh tham gia trọn vẹn vào đời sống cầu nguyện phong phú của mình như thế, thì ấy là dự phần vào chức vụ tư tế đem lại ơn cứu độ nhờ Người, với Người và trong Người.

Nhìn xa trông rộng nhưng gắn bó với thời đại của mình, Đức Pi-ô XII  khen ngợi một số hình thức tham gia tích cực của tín hữu do phong trào phụng vụ thúc đẩy, nhưng đồng thời cũng phi bác một số hình thức khác. Ví dụ, người mạnh mẽ khuyến khích các tín hữu đọc hoặc hát những câu đối đáp - tất nhiên bằng La ngữ – và việc giáo dân dâng của lễ; tuy nhiên người lên án việc sử dụng tiếng bản xứ và việc lấy lại các thể thức phụng vụ thuộc các thế kỷ trước có thể gây phương hại cho những thể thức hiện hành kể từ Công đồng Trento (1545-1563).  Đức Thánh cha sôi nổi cổ võ việc cộng đoàn ca hát. Trong rất nhiều chỗ nói đến âm nhạc, có những câu có lẽ là ẩn dụ thần học tiêu chuẩn, chẳng hạn khi người nói đến Hội Thánh chung hoà lời ca tiếng hát với các thiên thần và tổng lãnh thiên thần. Lại có những câu dường như muốn nói đến vai trò của các ca đoàn được đào tạo chuyên môn, chẳng hạn khi ngài nói đến Kinh Tin Kính được hát lên. Đức Thánh cha khẳng định rõ ràng: “để các tín hữu tham dự cách tích cực hơn vào việc thờ phượng Thiên Chúa, hãy phục hồi thánh nhạc Gregorio cho dân chúng sử dụng ở những phần thích hợp với họ” (192). Cần phải lo sao cho các tín hữu “tham dự các nghi lễ thánh không phải như những người ngoài cuộc hay như khán giả câm nín” nhưng “phải đối đáp với linh mục và ca đoàn theo như luật định” (192). Đức Thánh cha không dừng lại ở nhạc Gregorio mà còn nói thêm rằng không nên loại bỏ “âm nhạc và hát xướng tân thời” ra khỏi phụng tự Công giáo miễn là chúng không có tính cách trần tục hay bất xứng và việc dung nạp chúng không phải chỉ để tạo ra “những hiệu ứng lạ thường”; nên chấp nhận ca nhạc tân thời “vì chúng có thể đóng góp không nhỏ vào vẻ huy hoàng của các nghi lễ thánh, có thể nâng tâm hồn lên tới những điều cao trọng và nuôi dưỡng được sự sốt sắng trong linh hồn” (193).

Thông điệp Mediator Dei  để lại cho chúng ta một di sản gồm những thách đố còn nguyên tươi mới như ở thời điểm năm 1947. Đọc lại thông điệp, chúng ta phải tự hỏi mình đã lãnh hội được hay chưa việc cầu nguyện và ca hát sao cho mọi người là một Nhiệm Thể duy nhất sẵn lòng gạt bỏ những ý muốn và xu hướng chia rẽ để đồng tâm nhất trí thờ phượng Thiên Chúa. Chúng ta phải tiếp tục tuyển chọn các bản văn được dệt nhạc khả dĩ hình thành được trong lòng chúng ta tinh thần Ki-tô giáo đích thực chứ không phải chỉ để lấp đầy những khoảng thời gian yên lặng và mua vui cho tâm trí. Các tác phẩm này phải đưa chúng ta đến chỗ biết cầu nguyện với tư cách cộng đoàn và với tư cách các cá nhân. Để được như vậy, thông điệp cho biết bài ca phải có vẻ đẹp tự thân và vẻ đẹp ở cách thể hiện. Cái đẹp đòi hỏi sự đầu tư công sức – thông điệp nói như thế. Và cần có sự suy xét thẩm định nữa. “Cái đẹp là gì?”, câu hỏi này quá lớn lao. “Tác phẩm này có nét đẹp hay không?, đó là câu hỏi cần thiết nhưng vẫn quá khó. Có lẽ câu hỏi hợp lý là: “tác phẩm này có đưa chúng ta qua bề mặt các sự vật mà tiến vào mầu nhiệm của Đức Ki-tô, Đấng hoạt động trong nghi thức phụng vụ này và trong cuộc sống hàng ngày của chúng ta hay không?” Không có câu trả lời phổ quát mà chỉ có yêu cầu cần phải suy xét theo hoàn cảnh của mỗi cộng đoàn phụng vụ cụ thể. Nơi nào có những bài ca đạt được tiêu chuẩn này chắc chắn sẽ nâng tâm hồn chúng ta lên, vượt khỏi vùng an nhàn thoải mái có bầu khí tràn ngập loại nhạc quảng cáo và kích động. Ở nơi ấy, chúng ta sẽ được dẫn dắt vào chiều rộng và chiều sâu của Tin mừng. Tương tự, thông điệp cảnh báo một cách chí lý rằng âm nhạc nâng tâm hồn lên không đồng nghĩa với âm nhạc gây chấn động và xao xuyến được tuyển chọn cốt chỉ để tạo ra “những hiệu ứng lạ thường” (193). Đổi mới cốt chỉ nhằm có cái mới là một giá trị văn hoá mà các nhạc sĩ sáng tác thánh ca và các thừa tác viên thánh nhạc có thể sa đà vào một cách quá dễ dàng. Hoạt động thánh nhạc phụng vụ đề ra một yêu cầu cao là chúng ta phải tỉnh táo, cần mẫn và khiêm nhường!

Thước đo cho biết hoạt động này diễn ra có tốt đẹp hay không được bày tỏ trong lời kêu gọi vang vang mà Đức Thánh cha Pi-ô XII dùng để kết thúc các đoạn văn nói về việc ca hát của cộng đoàn: “Mong sao tiếng ca hoà thuận của giáo dân bay lên tới thiên đàng như tiếng bùng lên của đại dương sôi động, và mong sao bằng lời ca tiếng hát họ minh chứng được sự đồng tâm hiệp nhất giữa các anh chị em là con cùng một Cha” (194).

----------------

1 Bài này đã đăng trên Hương Trầm số 8 (tháng 8/2008)


 
Người dịch: Phanxicô