Tôi tớ tốt lành và trung tín (25.1.2012 – Thứ tư, Mồng Ba Tết Nguyên đán)
Tôi tớ tốt lành và trung tín
Lời Chúa: Mt 25, 14-30
Bấy
giờ, Đức Giêsu kể cho các môn đệ nghe dụ ngôn này: “Người kia sắp đi xa, gọi
tôi tớ đến mà giao phó của cải mình cho họ. Ông đưa cho người này năm nén,
người kia hai nén, người khác nữa một nén, tùy khả năng riêng mỗi người. Rồi
ông ra đi. Lập tức, người đã lãnh năm nén lấy số tiền ấy đi làm ăn buôn bán, và
gây lời được năm nén khác. Cũng vậy, người đã lãnh hai nén gây lời được hai nén
khác. Còn người đã lãnh một nén thì đi đào lỗ chôn giấu số bạc của chủ. Sau một
thời gian lâu dài, ông chủ của các đầy tớ ấy đến và yêu cầu họ thanh toán sổ
sách. Người đã lãnh năm nén tiến lại gần, đưa năm nén khác, và nói: “Thưa ông
chủ, ông đã giao cho tôi năm nén, tôi đã gây lời được năm nén khác đây.” Ông
chủ nói với người ấy: “Khá lắm! anh đúng là tôi tớ tốt lành và trung tín! Được
giao ít mà anh đã trung thành, thì tôi sẽ giao nhiều cho anh. Hãy vào mà hưởng
niềm vui của chủ anh!” Người đã lãnh hai nén cũng tiến lại gần và nói: “Thưa
ông chủ, ông đã giao cho tôi hai nén, tôi đã gây lời được hai nén khác đây”.
Ông chủ nói với người ấy: “Khá lắm! anh đúng là tôi tớ tốt lành và trung tín!
Được giao ít mà anh đã trung thành, thì tôi sẽ giao nhiều cho anh. Hãy vào mà
hưởng niềm vui của chủ anh!” Rồi người đã lãnh một nén cũng tiến lại gần và
nói: “Thưa ông chủ, tôi biết ông là người hà khắc, gặt chỗ không gieo, thu nơi
không vãi. Vì thế, tôi đâm sợ, mới đem chôn giấu nén bạc của ông dưới đất. Của
ông vẫn còn nguyên đây này!” Ông chủ đáp: “Anh thật là tôi tớ xấu xa và biếng
nhác! Anh đã biết tôi gặt chỗ không gieo, thu nơi không vãi, thì đáng lý anh
phải gởi số bạc của tôi cho các chủ ngân hàng, để khi tôi đến, tôi thu được cả
vốn lẫn lời chứ! Vậy các ngươi hãy lấy nén bạc khỏi tay nó mà đưa cho người đã
có mười nén. Vì phàm ai đã có, thì được cho thêm và sẽ có dư thừa; còn ai không
có, thì ngay cái đang có, cũng sẽ bị lấy đi. Còn tên đầy tớ vô dụng kia, hãy
quăng nó ra chỗ tối tăm bên ngoài: ở đó, người ta sẽ phải khóc lóc nghiến răng.”
Suy niệm:
Lao động
đúng là vinh quang của con người,
Thiên Chúa vẫn cần con người cộng
tác cho công cuộc sáng tạo còn dang dở…
Ngài vẫn muốn nhờ con người mà làm
cho thế giới này đẹp hơn, dễ sống hơn,
làm cho trái đất này trở thành một
ngôi làng ấm áp, xinh xắn, gần gũi
cho hơn sáu tỷ người sống như anh
chị em.
Từng ngày bao người vẫn cộng tác
với Thánh Thần để biến đổi bộ mặt trái đất.
Có một lời nguyện rất hay của Phụng
vụ Giờ Kinh tóm kết về giá trị của lao động:
“Ước gì những công việc chúng con
phải làm, vừa nuôi dưỡng chúng con,
vừa mưu ích cho những người chúng
con chịu trách nhiệm,
lại vừa làm cho triều đại Chúa mau
đến.”
Như thế lao động là một bổn phận
của người Kitô hữu.
Lao động
không phải là một hình phạt của tội nguyên tổ.
Thống trị mặt đất và làm bá chủ mọi
loài (St 1, 28).
là sứ mạng Thiên Chúa trao cho con
người ngay sau khi nó được tạo dựng.
Trước khi phạm tội, con người đã
được Đức Chúa “đặt vào vườn Êđen,
để cày cấy và canh giữ đất đai” (St
2, 15).
Làm việc với đất, với vườn, với đủ
thứ cây trái là một vinh hạnh lớn.
Thánh Phaolô cũng thấy cái thú
trong việc “làm lụng vất vả”
để nuôi thân và để “giúp đỡ những
người đau yếu” (Cv 20, 35).
Có pha một chút tự hào, vị tông đồ
lừng danh này khoe:
“Những gì cần thiết cho tôi, và cho
những người sống với tôi,
đôi tay này đã tự cung cấp” (Cv 20,
34).
Chẳng biết từ đâu Phaolô nghe được
câu này mà ông bảo là của chính Chúa Giêsu:
“Cho thì có phúc hơn là nhận”
Làm việc chính là “cho”, và “cho”
thật là một hồng phúc.
Đầu tư là
vấn đề nóng bỏng của mọi nền kinh tế.
Trong bài Tin Mừng, Đức Giêsu dám
ví đời sống Kitô hữu với chuyện làm ăn.
Ông chủ Giêsu đi vắng thời gian lâu
(c.19), giao của cải cho tôi tớ đầu tư sinh lợi.
Chẳng phải ai cũng được số nén bạc
như nhau,
nhưng mỗi người phải cố gắng tối đa
với những gì mình đã lãnh nhận.
Hai người đầu tiên đã đi làm ăn và
sinh lợi tương xứng,
được ông chủ coi là “tôi tớ tốt
lành và trung tín.” (cc. 21.23).
Người thứ ba lại đào lỗ đưới đất và
chôn dấu nén bạc duy nhất của mình.
Nén bạc của anh thứ ba còn nguyên,
không sinh lợi,
vì thế anh bị coi là “tôi tớ xấu
xa, biếng nhác và vô dụng” (cc. 26.30).
Trong khi
chờ Chúa trở lại, chúng ta nỗ lực sử dụng tài năng Chúa ban.
Làm sao sinh lợi được nhiều nhất và
hiệu quả nhất từ số vốn mình nhận?
Làm sao để Thiên Chúa được vinh
danh hơn trên mặt đất này?
Đầu tư đòi sáng tạo của khối óc và
đam mê của trái tim.
Đầu tư đòi chấp nhận liều lĩnh, nỗ
lực và căng thẳng.
Nhưng chúng ta dám chấp nhận sự dấn
thân này chỉ vì yêu Giêsu.
Cầu nguyện:
Lạy Chúa Giêsu,
nếu ngày mai Chúa quang lâm,
chắc chúng con sẽ vô cùng lúng túng.
Thế
giới này còn bao điều khiếm khuyết, dở dang,
còn bao điều nằm ngoài vòng tay của
Chúa.
Chúa
đâu muốn đến để hủy diệt,
Chúa đâu muốn mất một người nào...
Xin
cho chúng con biết cộng tác với Chúa
xây dựng một thế giới yêu thương và
công bằng,
vui tươi và hạnh phúc,
để ngày Chúa đến thực là một ngày
vui trọn vẹn
cho mọi người và cho cả vũ trụ.
Xin
nuôi dưỡng nơi chúng con
niềm tin vững vàng
và niềm hy vọng nồng cháy,
để tất cả những gì chúng con làm
đều nhằm chuẩn bị cho ngày Chúa trở
lại.
***
25.1.2012 – Thánh Phaolô tông đồ trở lại
Con phải làm gì?
Lời Chúa: Cv 22, 3-16
Thưa anh em, tôi là người Do Thái, sinh ở Tácxô miền
Kilikia, nhưng tôi đã được nuôi dưỡng tại thành này; dưới chân ông Gamaliên,
tôi đã được giáo dục để giữ Luật cha ông một cách nghiêm ngặt. Tôi cũng đã
nhiệt thành phục vụ Thiên Chúa như tất cả các ông hiện nay. Tôi đã bắt bớ Ðạo
này, không ngần ngại giết kẻ theo Ðạo, đã đóng xiềng và tống ngục cả đàn ông
lẫn đàn bà, như cả vị thuợng tế lẫn toàn thể hội đồng kỳ mục có thể làm chứng
cho tôi. Tôi còn được các vị ấy cho thư giới thiệu với anh em ở Ðamát, và tôi
đi để bắt trói những người ở đó, giải về Giêrusalem trừng trị.
Ðang khi tôi đi đường và đến gần Ðamát, thì vào khoảng trưa,
bỗng nhiên có một luồng ánh sáng chói lọi từ trời chiếu xuống bao phủ lấy tôi.
Tôi ngã xuống đất và nghe có tiếng nói với tôi: “Saun, Saun, tại sao ngươi bắt
bớ Ta?” Tôi đáp: “Thưa Ngài, Ngài là ai?” Người nói với tôi: “Ta là Giêsu
Nadarét mà ngươi đang bắt bớ.” Những người cùng đi với tôi trông thấy có ánh
sáng, nhưng không nghe thấy tiếng Ðấng đang nói với tôi. Tôi nói: “Lạy Chúa,
con phải làm gì?” Chúa bảo tôi: “Hãy đứng dậy, đi vào Ðamát, ở đó người ta sẽ
nói cho con biết tất cả những gì Thiên Chúa đã chỉ định cho con phải làm.” Vì
ánh sáng chói loà kia làm cho tôi không còn trông thấy nữa, nên tôi đã được các
bạn đồng hành cầm tay dắt vào Ðamát.
Ở đó, có ông Khanania, một người sùng đạo, sống theo Lề Luật
và được mọi người Do Thái ở Ðamát chứng nhận là tốt. Ông đến, đứng bên tôi và
nói: “Anh Saun, anh thấy lại đi!” Ngay lúc đó, tôi thấy lại được và nhìn ông.
Ông nói: “Thiên Chúa của cha ông chúng ta đã chọn anh để anh được biết ý muốn
của Người, được thấy Ðấng Công Chính và nghe tiếng từ miệng Ðấng ấy phán ra.
Quả vậy, anh sẽ làm chứng nhân cho Ðấng ấy trước mặt mọi người về các điều anh
đã thấy và đã nghe. Vậy bây giờ anh còn chần chừ gì nữa? Anh hãy đứng lên, chịu
phép rửa và thanh tẩy mình cho sạch tôi lỗi, miệng kêu cầu danh Người.”
Suy niệm:
Bài sách
Công vụ Tông đồ hôm nay kể về một cuộc gặp gỡ lạ lùng
giữa Đức Giêsu Nadarét với anh
Saun, kẻ đang bách hại các Kitô hữu.
Chính Ngài muốn gặp anh trên con
đường anh đang đi.
Dưới mắt Saun, Kitô hữu là những kẻ
bỏ đạo Do Thái chính thống,
để chạy theo một tà phái của ông
Giêsu nào đó mà họ tin là đã phục sinh.
Trong tư cách là một người Pharisêu
nhiệt thành và nghiêm túc (c. 3),
Saun thấy mình có bổn phận phải
trừng trị những kẻ phản đạo,
bằng cách bắt bớ, xiềng xích, tống
ngục, thậm chí thủ tiêu (cc. 4-5).
Chính lúc đang say sưa đến gần
thành Đamát thì anh bị quật ngã.
Cuộc gặp gỡ bắt đầu, đời anh từ nay
giở sang một trang mới.
Khi anh
đang tự tin và hiên ngang tiến bước,
thì ánh sáng chói lòa từ trời làm
anh ngã quỵ (c. 7).
Khi Saun nghĩ mình là người sáng
mắt,
thì ngay giữa trưa, anh trở nên mù
lòa (c. 11).
Khi anh định chỉ đạo cho những kẻ
lầm đường lạc lối,
thì bây giờ anh lại cần một người
cầm tay dắt đi (c. 11).
Cuộc đối thoại bắt đầu giữa anh với
người mà anh chỉ nghe tiếng nói.
Ngài âu yếm gọi tên anh hai lần và
tự giới thiệu:
“Saun, Saun, tại sao ngươi bắt bớ
Ta?
Ta là Giêsu Nadarét mà ngươi đang
bắt bớ” (c. 8).
Bắt bớ các Kitô hữu là bắt bớ chính
Đức Giêsu.
Đức Giêsu và các Kitô hữu là một.
Bài học đầu tiên này Saun sẽ chẳng
thể nào quên.
“Lạy
Chúa, con phải làm gì?” (c. 10).
Lần đầu tiên Saun gọi người mà anh
không hề tin là Chúa.
Khi tuyên xưng Đức Giêsu Nadarét là
Chúa,
anh lập tức phó thác cho Ngài, để
Ngài chỉ bảo điều mình phải làm.
Nhưng Chúa Giêsu phục sinh đã không
nói gì.
Ngài trao anh cho ông Khanania, một
người chưa phải là Kitô hữu.
Chính ông này cho mắt anh thấy lại
và cho anh biết
anh được chọn để làm chứng nhân cho
Ngài trước mặt mọi người.
Đamát là
nơi Đức Giêsu tỏ mình cho Saun, cũng được gọi là Phaolô,
là nơi ông nghe tiếng gọi trở nên
tông đồ cho dân Ngoại,
và cũng là nơi khởi đầu cho cuộc
hoán cải tận căn của ông.
Chính mặc khải của Đấng phục sinh
dẫn đến ơn gọi và hoán cải.
Từ nay cuộc đời của Phaolô đi sang
một hướng mới.
Giêsu đã trở nên trung tâm của đời
ông.
“Tôi coi tất cả như đồ bỏ, để chiếm
được Đức Kitô” (Ph 3, 8).
Biến cố trên đường đi Đamát đã chia
đời ông làm hai.
“Tôi chỉ chú ý đến một điều, là
quên đi chặng đường đã qua,
để lao mình về phía trước” (Ph 3,
13).
Chúng ta
cũng có những kinh nghiệm như Phaolô:
ngã ngựa, mù lòa, nghe và gặp Đức
Kitô, rồi hoán cải.
Như Phaolô, mong chúng ta để cho
Đức Kitô Giêsu chiếm lấy mình,
và trở nên người tông đồ nhiệt
thành cho thế giới.
Cầu nguyện:
Xin
hãy dẫn dắt con
đi từ cõi chết đến sự sống,
từ lầm lạc đến chân lý.
Xin hãy dẫn dắt con
đi từ thất vọng đến hy vọng,
từ sợ hãi đến tín thác.
Xin hãy dẫn dắt con
đi từ ghen ghét đến yêu thương,
từ chiến tranh đến hòa bình.
Xin hãy đổ đầy bình an
trong trái tim chúng con,
trong thế giới chúng con,
trong vũ trụ chúng con.
(Chân phước
Têrêxa Calcutta)
Lm Antôn Nguyễn Cao Siêu, SJ