
Tiến trình lịch sử của
việc thiết lập Hàng giáo phẩm Việt Nam
Giáo hội Công Giáo Việt
Nam đang sống trong Năm Thánh mừng kỷ niệm 350 năm thành lập Giáo hội (1659-2009)
và 50 năm thiết lập Hàng Giáo phẩm Việt Nam (HGPVN)
[1]
(1960-2010). Đây là hai sự kiện đặc biệt quan trọng không thể tách rời và có
liên hệ chặt chẽ trong quá trình hình thành và phát triển của Giáo hội Việt
Mừng Năm Thánh 2010, qua
bức thư công bố Năm Thánh 2010 gởi cộng đồng Dân Chúa, các giám mục Việt Nam đã viết:
“Đây là thời điểm cho chúng ta nhìn lại quá khứ để tạ ơn Chúa và lắng nghe bài
học của lịch sử, nhìn vào hiện tại, để nhận diện những thuận lợi và thách đố,
nhìn tới tương lai để cùng nhau canh tân đời sống và xây dựng Giáo hội theo
đúng thánh ý Thiên Chúa”.
[2]
Quả thế, “Lịch sử là bài học của quá khứ,
cho hiện tại, để hướng đến tương lai”. Chính trong tinh thần ấy, chúng ta
cùng nhìn lại đôi nét tiến trình thành lập HGPVN trong dòng lịch sử Giáo hội Việt
A. Khái quát dòng lịch sử Giáo hội Việt Nam
Tiến trình hình thành và
phát triển của Giáo hội Việt
1. Thời kỳ khai phá, từ 1533-1659, gồm hai giai đoạn:
Giai đoạn mở đường (1533- 1614) và giai đoạn xây nền móng (1615-1659)
2. Thời kỳ hình thành, từ 1659-1802: được đánh dấu bằng
việc thiết lập 2 Giáo phận Tông tòa đầu tiên: Đàng Ngoài (
3. Thời kỳ thử thách, từ 1802-1884 với sự bách hại đẫm
máu của các vua Minh Mạng (1820-1841); Thiệu Trị (1841-1847), Tự Ðức
(1847-1883) cùng với các phong trào Văn Thân và Cần Vương.
4. Thời kỳ phát triển, từ 1884-1960, được đánh dấu với
hòa ước Giáp thân 1884, đây là thời kỳ đạo Công giáo được sống trong hòa bình
cho đến sự kiện thành lập HGPVN năm 1960.
5. Thời kỳ trưởng thành, từ khi HGPVN được thành lập đến
nay.
[3]
Trong dòng lịch sử này,
ba giai đoạn: Hình thành, Thử Thách và Phát Triển, khởi đi từ năm 1659 đến 1960
làm nên bối cảnh, hay cái khung của tiến trình thành lập HGPVN.
B. Bối cảnh lịch sử của việc thiết lập Hàng Giáo phẩm Việt
Nam
Tiến trình thành lập HGPVN
diễn ra trong dòng thời gian khá dài, với 300 năm, từ 1659-1960, qua nhiều sự
kiện và những yếu tố khá phức tạp trong dòng lịch sử truyền giáo. Trong phần
này, trước hết, chúng ta sẽ nêu rõ định hướng rất rõ ràng của Tòa thánh ngay từ
buổi ban đầu của việc thành lập Giáo hội Việt
I. Bối cảnh chuẩn bị xa cho việc thành lập Hàng Giáo phẩm
1. Định hướng ban đầu của Tòa Thánh
Để xây dựng một Giáo hội
địa phương bền vững, mục tiêu đầu tiên của Tòa thánh là tạo lập Hàng Giáo sĩ địa
phương để từng bước trao chức giám mục cho các linh mục địa phương và thành lập
Hàng Giáo Phẩm địa phương. Đối với Giáo Hội Việt
Ngày 9/9/1659, ĐGH
Alexandre VII chính thức thành lập Giáo hội Việt Nam, qua Tông sắc Super Cathedram, bổ nhiệm hai giám mục tiên
khởi cho hai địa phận đại diện tông tòa Đàng Trong và Đàng Ngoài, là Đức cha
François Pallu và Pierre Lambert de la motte.
[5]
Nhân dịp này, Thánh Bộ Truyền giáo đã trao cho hai vị giám mục Đại diện Tông
tòa của Giáo hội Việt
Như vậy, ngay từ khi Giáo
hội Việt Nam được thành lập năm 1659, Tòa thánh đã có định hướng rõ ràng cho
tương lai của Giáo hội này, qua những chỉ thị về việc đào tạo Hàng Giáo sĩ và
việc tấn phong giám mục bản xứ, để hướng tới mục đích thiết lập HGPVN. Đây là
điều hết sức quan trọng, bởi vì, qua kinh nghiệm truyền giáo tại Nhật Bản, do chưa
tạo lập được Hàng Giáo sĩ bản xứ vững mạnh, nên khi bão táp bách hại xảy đến
vào năm 1614, Giáo hội Nhật Bản hầu như tan rã.
2. Dự án đầu tiên cho việc bổ nhiệm Giám mục Việt
a/ Dự án tấn
phong Giám mục Việt nam của Đức cha François Pallu
Sau khi nhận sứ vụ Giám
mục Đại diện Tông tòa Gp Đàng Ngoài, trong cuộc hành trình đến Giáo phận mới, Đức
cha Pallu đã soạn thảo tập tài liệu mang tên : “Góp thêm vào bản Huấn Thị”
(Additions aux Instructions)
[8]
gởi cho các nhà truyền giáo tại vùng Á đông, trong đó có đoạn viết: “Chúng ta phải giáo dục và chuẩn bị cho việc
gia nhập hàng giáo sĩ và chức linh mục, tất cả những ai chúng ta xét là có khả
năng; Chúng ta phải tạo lập hàng Giáo sĩ địa phương và tùy theo sự tự do mà
chúng ta có được, họ thi hành tất cả các chức năng tông đồ”.
[9]
Năm 1678, tại Rôma, Đức cha Pallu đã đệ trình lên ĐGH
và Thánh bộ truyền giáo một dự án đề cử những giám mục bản xứ. Ngài khẳng định:
“Nếu tính cả các linh mục lai vào số
những linh mục bản xứ, thì có thể tìm được những ứng viên xứng đáng lãnh nhận
chức Giám mục”.
[10]
Ngài cũng chỉ cho thấy những lợi ích của việc bổ nhiệm các Gm bản xứ: trước
hết, các Gm người địa phương có thể đi lại dễ dàng trong xứ sở của mình, họ dễ
dàng đến được với các cộng đoàn tín hữu để ban phát các Bí tích, nhất là Bí
tích Thêm sức, nhờ đó, niềm tin của các tín hữu sẽ được cũng cố; đàng khác, các
Thầy giảng sẽ được khích lệ để chu toàn bổn phận và họ cũng được khuyến khích
để dấn thân trong ơn gọi dâng hiến; Hơn nữa, người bản xứ sẽ thấy sự quý trọng
mà Giáo hội làm đối với người đồng hương của họ. Do vậy, đạo Công giáo sẽ được
họ đón nhận cách dễ dàng hơn; Cuối cùng, các vua chúa và quan lại địa phương sẽ
không còn ngờ vực các thừa sai nước ngoài có ý đồ xâm lược đất nước của họ.
[11]
Tuy nhiên, Đức cha. Pallu chỉ đề nghị các Giám mục Việt Nam: “được tấn phong
với chức năng là Gm hiệu tòa, họ làm việc trong những vùng đất được Giám mục
Đại diện Tông tòa phân định và họ buộc phải tuân phục quyền của vị Đại diện
Tông tòa …”.
[12]
Tuy nhiên, quan điểm của Thánh Bộ truyền giáo muốn rằng, các Gm địa phương sẽ
được tấn phong phải là “những giám mục
bản xứ với “Năng quyền” bình thường, nghĩa là: “những Gm (có năng quyền) thực
thụ tại một tòa Gm địa phương, với những trách nhiệm hoàn toàn riêng biệt của
một Giáo phận mới, được thành lập bởi Tòa thánh, là những Đại diện Tông tòa,
ngang quyền với những Đại diện Tông tòa người Châu Âu”.
[13]
b/ Cha Giuse Phước, ứng viên Giám mục
Việt
Ngày 20 tháng 5 năm 1686, Tòa thánh yêu cầu Đc.
François Deydier chọn lựa một linh mục bản xứ làm Gm phó cho ngài: “Episcopo
Ascalonensi detur facultas eligendi sibi in coadjutorem inter sacerdotes
nationales quem prae caeteris optimum existimaverit”.
[14]
Năm 1687, Tòa thánh tiếp tục thúc bách hai Đức cha François Deydier (tên Việt
là Điển và Phan) và Jacques de Bourges (tên Việt là Gia)
[15]
giới thiệu những ứng viên Gm Việt
Cha Giuse Phước thuộc nhóm các linh mục đầu tiên của
địa phận Đàng Ngoài. Sinh năm 1659 tại Thanh hóa. Ngài được gởi sang Thái Lan,
được đào tạo tại Chủng viện Ayuthia. Thầy Giuse rất giỏi môn La ngữ. “Là một chủng sinh xuất sắc của Thánh Bộ và
là hương vị ngọt ngào của Chúa Kitô. Thầy khá thông thạo về thần học”,
[17]
được Đc. Louis Laneau hết lời khen ngợi. Năm 1689, Đc. Louis Laneau đã phong
chức linh mục cho thầy tại Ayuthia, sau đó, cha Giuse Phước trở lại Đàng Ngoài,
phục vụ tại Thanh hóa vào năm 1703, tại Nghệ an năm 1706. Trong cuộc bách hại
đạo Công giáo lúc bấy giờ, ngài bị bắt vào tháng 4/1717. Bị kết án tù chung
thân ngày 21/5/1717 và chết rũ tù ngày 10/2/1732, hưởng thọ 73 tuổi.
[18]
Năm 1691, chính Đc. Louis Laneau đã đề cử cha Giuse
Phước lên ĐGH Innôcentê XII và Thánh bộ Truyền giáo như ứng viên giám mục Việt
nam đầu tiên, để xin tấn phong cho ngài. Tuy nhiên, nhiều khó khăn do bởi ý
kiến trái chiều và tế nhị của một số thừa sai Châu Âu lúc bấy giờ,
[19]
do đó, sự kiện tấn phong Gm cho cha Giuse Phước kéo dài đến năm 1709 mà không
đạt được kết quả. Kể từ thời điểm này, dự án Gm cho người Việt Nam không còn
được nhắc tới, cho đến thế kỷ XX khi Đức cha Gioan Baotixita Nguyễn Bá Tòng
được tấn phong Gm ngày 11/6/1933.
3. Những văn kiện của Tòa Thánh
Mặc dù dự án tấn phong
Gm cho người Việt
a/ Huấn thị Neminem profecto
[20]
Một trăm tám mươi lăm năm sau khi Huấn thị 1659 được
trao cho hai Giám mục đầu tiên, Thánh bộ Truyền giáo cho ra đời Huấn Thị Neminem
profecto vào năm 1845, qua đó, Thánh bộ đặc
biệt nhấn mạnh đến sự cần thiết phải tạo lập Hàng Giáo sĩ địa phương tại các xứ
truyền giáo.
Huấn thị Neminem profecto nhắc lại lời của Huấn Thị năm 1659 như sau : “Vào năm 1659, Đức Giáo Hoàng Alexandre VII
đã yêu cầu Thánh Bộ Truyền giáo gởi những chỉ thị cho các Đại diện Tông tòa
trước khi họ đi đến các xứ Đàng Trong, Đàng Ngoài và Trung Hoa rằng: “Lý do
chính khi gửi các Giám mục đến những miền trên là để các Giám mục Đại diện Tông
tòa này, cố gắng bằng tất cả mọi hoạt động và mọi phương tiện, lo giáo dục các
thanh niên người bản xứ, để họ có khả năng thi hành chức vụ linh mục; Họ sẽ
được chính các ngài phong chức và sai đến những vùng đất trong xứ sở bao la đó,
để cộng tác vào công trình Kitô giáo, dưới sự điều khiển của các Giám mục Đại
diện Tông tòa”.
Neminem profecto cũng nhắc lại ý hướng ban đầu của Thánh bộ, được xác định trong
Huấn thị 1659 rằng : “Theo ước
nguyện lâu đời của Tòa Thánh, các giáo sĩ địa phương phải trở nên những người
tự đảm trách tất cả các nhiệm vụ, điều hành mọi hoạt động và sau đó cũng được
nhận phẩm chức Giám mục”.
b/ Tông thư Maximum illud
[21]
Ngày 31/11/1919, ĐGH
Bênêdictô XV đã ban hành Tông thư Maximum illud, trong đó nhấn mạnh đặc
biệt đến việc phải thiết lập Hàng Giáo sĩ bản xứ, bằng những lời lẽ rất mạnh mẽ: “Linh mục bản xứ là người có khả năng tuyệt vời
để hội nhập chân lý vào các tâm hồn (acclimater la vérité dans les âmes). Các
thừa sai nước ngoài không được sử dụng họ duy nhất vào những công tác thấp hèn
như trợ tá cho các thừa sai ngoại quốc, nhưng phải liệu sao cho họ có thể đích
thân điều khiển các tín hữu của họ. Nhiều dân tộc đã văn minh tiến bộ, đã có được
những người tài giỏi trong mọi lãnh vực, chẳng lẽ họ không có được các Linh mục
và Giám mục để tự điều hành Giáo Hội địa phương của họ hay sao?”
[22]
Đức Bênêdictô XV cũng khiển trách nặng lời một số thừa sai như sau: “Thật đáng thương khi thấy những vị thừa sai
không hiểu phẩm chức của mình tới độ, đã lo lắng đặt quê hương trần thế của họ
lên trên cả quê hương Nước trời. Họ công khai và nhiệt tâm lo việc phát triển
thế lực, danh tiếng và vinh quang đất nước họ, trên mọi lợi ích khác. Những
thái độ này đối với việc tông đồ, như một bệnh dịch ghê tởm (comme une peste
affreuse)” .
[23]
Ngài còn viết: “Sẽ là tai hoạ nếu người của
Tòa thánh đem sức mình ra để thúc đẩy và củng cố uy tín của mảnh đất quê hương
mà người đó đã bỏ lại phía sau, điều đó sẽ dễ dàng dẫn đến quan điểm cho rằng
Công giáo là tôn giáo của người ngoại quốc, người cải đạo sang Công giáo là người
không còn trung thành với dân tộc của mình, là người phục tùng đòi hỏi và sự thống
trị của quyền lực ngoại bang”. Bức Tông thư còn phê phán sự phân biệt giai
cấp, chủng tộc của Giáo hội tại các miền truyền giáo lúc bấy giờ: “Những kẻ coi người bản địa là chủng tộc hạ đẳng
hay người có trí tuệ thấp kém là đã phạm sai lầm nghiêm trọng”.
c/ Thông điệp Rerum Ecclesiae
[24]
Ngày
28/2/1926, Đức Piô XI đã công bố Thông điệp Rerum Ecclesiae, qua thông điệp này,
vấn đề Hàng Giáo sĩ địa phương được nhấn mạnh cách đặt biệt. Đức Piô XI xác định
rõ: “ […] phải có hàng giáo sĩ địa phương
để tự đảm trách Giáo hội của họ”. Ngài loan báo, “đã đến lúc, Giáo hội địa phương phải tự đảm nhận sứ vụ truyền bá phúc
âm”.
Qua Thông điệp Rerum
Ecclesiae, Đức Piô XI đã lấy lại tư tưởng, định hướng và ngay cả từ ngữ
của Tông thư Maximum illud của Đức Bênêdictô XV. Ngỏ lời với các Gm Đại diện
Tông tòa, những người có trách nhiệm tại các xứ truyền giáo, Đức Piô XI nói: “Trước hết, Ta nhắc lại với Quý chư huynh về
ích lợi lớn lao của việc thiết lập Hàng Giáo sĩ địa phương. Nếu Quý chư huynh
không làm hết sức mình cho công việc này, thì không những Ta coi như sứ vụ tông
đồ của Quý chư huynh chưa được chu toàn cách đầy đủ, nhưng Quý chư huynh còn làm
chậm trễ hơn nữa tiến trình thành lập và tổ chức Giáo Hội tại các xứ truyền
giáo này”.
[25]
Như
một nhà tiên tri của thời cuộc, Đức Piô XI đưa ra những tiên báo và lý luận rất
sâu sắc như sau: “Quý chư huynh hãy giả
thiết rằng, sau một cuộc chiến tranh hay sau những biến cố chính trị, một vùng
đất truyền giáo nào đó được thay đổi chính quyền. Khi ấy, nhà cầm quyền yêu cầu
hoặc ra lệnh cho các thừa sai nước ngoài phải ra khỏi xứ sở của họ… Khi ấy, thật
là một thảm họa lớn cho Giáo Hội, nếu như tại đó không có sẵn một Hàng Giáo sĩ
người bản xứ…”.
[26]
Một cách mạnh mẽ và thẳng
thắn, Đức Piô XI đã lên tiếng: “Quý chư
huynh tuyệt đối không thể tiếp tục giam hãm các linh mục địa phương trong tình
trạng như những thuộc cấp của mình, chỉ với những thừa tác vụ thấp kém. Quả thật,
các vị ấy có cùng một chức linh mục như tất cả
Đức Giáo Hoàng Piô XII,
trong thông điệp Evangelii Praecones, ngày 2/6/1951 cũng đã minh định rõ ràng: “Giáo Hội được phép thành lập Hàng Giáo phẩm
tại các địa phương nếu cần thiết. Đây là một phương thức được chấp thuận trong
hiện tại… ”.
[28]
Với ba văn kiện nêu trên,
đặc biệt, với Tông thư Maximum illud và Thông điệp Rerum
Ecclesiae, Tòa thánh đã lên tiếng và can thiệp mạnh mẽ cho tiến trình tạo
lập Hàng Giáo sĩ và việc thiết lập Hàng Giáo phẩm địa phương. Xét về nhiều mặt,
các văn kiện Maximum Illud và Rerum Ecclesiae chính là đỉnh điểm của một loạt
những cuộc cải cách tại các xứ truyền giáo. Qua Tông thư Maximum Illud và Thông điệp
Rerum
Ecclesiae, Tòa thánh không chỉ phê phán những ràng buộc mang tính chính
trị và những định kiến về mặt chủng tộc tại các xứ truyền giáo, mà còn công nhận
rằng: thay đổi trong Giáo hội Công giáo bên ngoài châu Âu là tất yếu, bởi vì đến
một ngày nào đó chế độ thuộc địa sẽ phải sụp đổ. Thấy trước tình hình chính trị
xã hội của thế giới, hai vị Giáo hoàng đã đưa ra những dự kiến, các ngài còn
lên kế hoạch để chống đỡ cho sự suy tàn của Giáo hội Công giáo do các Hội thừa
sai nắm giữ trong những hoàn cảnh mới. Đức Giáo hoàng Piô XI khẳng định: “ […]
người ngoài châu Âu sẽ không còn bị hạn chế trong các chức vụ tư tế, và trong một
thời gian ngắn sắp tới, họ sẽ trở thành những Giám mục đứng đầu Giáo hội tại
các quốc gia của họ”.
[29]
Tinh thần cải cách qua các văn kiện trên đây như một luồng khí mới, đang thổi
ngang qua thế giới Công giáo, đặc biệt tại các xứ truyền giáo; Đó còn như là
như sự thể hiện trước và như là nguồn cội tư tưởng và định chế của Công đồng
Vatican II. Thật vậy, qua Hiến chế "Ad Gentes" Công đồng Vatican II
đã xác quyết: “Xuất phát từ Lời Thiên Chúa, các Giáo hội địa phương phải được
phát triển trong cả thế giới, tự mình thụ hưởng những tài năng riêng biệt và mức
độ trưởng thành của mình, họ phải có phẩm trật riêng họp cùng dân tộc trung
kiên của họ, phải có những phương tiện tương xứng với tài năng, và cần thiết
cho việc khuếch trương một đời sống công giáo hoàn bị”.
[30]
II. Bối cảnh chuẩn bị gần
Với định hướng ban đầu,
với những chỉ thị, tiếng nói can thiệp mạnh mẽ về mặt lý thuyết qua các văn kiện,
lúc này đây, trong hoàn cảnh hiện tại, Tòa thánh nhận thấy cần có những hoạt động
cụ thể để thực hiện công cuộc cải cách Giáo hội tại các xứ truyền giáo nhắm đến
việc bổ nhiệm, trao quyền điều hành Giáo hội cho các Giám mục bản xứ và tiến tới
việc thiết lập Hàng Giáo phẩm địa phương. Tại Việt Nam, bước đi đầu tiên của
Tòa thánh là thiết lập Tòa Khâm sứ với vị đại diện thường trực của ĐGH và của
Thánh Bộ truyền giáo, để giám sát và điều hành mọi hoạt động của Giáo hội theo
định hướng chung.
1. Thiết lập Tòa Khâm sứ miền Đông Dương
a/ Chuẩn bị cho việc thiết lập
Trong dòng lịch sử truyền
giáo tại Việt Nam, đã vài lần Tòa thánh gởi các vị Khâm sai đi kinh lược tại Việt
Nam để nắm bắt tình hình truyền giáo hoặc để giải quyết những khó khăn phát
sinh trong công cuộc truyền giáo.
[31]
Ngày 7/5/1737, Tòa thánh đã bổ nhiệm Đức cha Le Beaume, Giám mục hiệu tòa
Halicarnasse làm khâm sai, đi kinh lược Giáo phận Đàng Trong từ năm 1739-1740.
[32]
Ngày 26/11/ 1744, Đức Giáo hoàng Bênêdictô XIV chỉ định Đức cha Hilario Costa
di Jesu,
[33]
Gm Đại diện Tông tòa Đông Đàng Ngoài, đi kinh lược ở Giáo phận Đàng Trong, Cuộc
kinh lý bắt đầu từ ngày 19/6/1747 đến 13/7/1747.
Năm 1922, Đức Piô XI đã
chỉ định Đức cha Henry Lécroart,
[34]
làm Khâm sai đi kinh lược từ ngày 4/11/1922 đến
30/6/1923, để xem xét tình hình các giáo phận tại Đông Dương, đặc biệt về cách
tổ chức và chương trình đào tạo tại các chủng viện, cách riêng tại Việt
Cuộc kinh lý của Đức
Khâm sai Henry Lécroart, với hai cuộc Hội nghị Giám mục, đã đem lại một số kết
quả tốt đẹp cho Giáo hội Việt Nam. Đối với dự án thiết lập Tòa Khâm sứ tại Đông
Dương, hầu hết các giám mục người phương Tây đã mạnh mẽ phản đối, nhưng có bốn vị
tán thành và đề nghị: “vị khâm sứ phải là
người Pháp”
[36]
. Về
vấn đề bình đẳng Giáo sĩ, cuối cùng Hội nghị các Giám mục đã tuyên bố: “Không thể chấp nhận sự trổi vượt về chủng tộc
giữa các Giáo sĩ. Phải có sự bình đẳng giữa các linh mục Tây phương và Bản xứ,
bởi vì, khi lãnh nhận chức linh mục, không ai lãnh nhận nhiều hơn ai”.
[37]
Tuyên bố này chính là bước hiện thực hóa chỉ thị của Đức Piô XI qua Thông điệp Rerum
Ecclesiae: “Quý chư huynh tuyệt đối
không thể tiếp tục giam hãm các linh mục địa phương trong tình trạng như những
thuộc cấp của mình, với những tác vụ thấp kém. Quả thật, các vị ấy có cùng một
chức linh mục như tất cả Chư huynh và cùng tham dự vào sứ vụ tông đồ hoàn toàn
giống như những giáo sĩ Âu châu khác”
[38]
; Với khuynh hướng chuyển đổi Giáo hội Việt Nam từ một “Giáo
hội truyền giáo” - có phần Tây hóa ngay cả tên gọi của các Giáo phận - sang một
“Giáo hội có tính dân tộc”, Đức Khâm sai Henry Lécroart đã đề nghị Thánh Bộ
Truyền giáo đổi tên các Giáo phận Đông dương theo tên của thành phố có Tòa Giám
mục. Đề nghị này được tán thành và Thánh Bộ Truyền giáo, với sự chuẩn y của Đức
Piô XI, đã ban hành Sắc lệnh đổi tên các
Địa phận Miền Đông Dương
[39]
ngày 3/12/1924. Cũng vào dịp này, Hội đồng Giám mục Đông Dương được thành lập.
b/ Thiết lập Tòa Khâm sứ
Với các hoạt động của Đức
Khâm sai Henry Lécroart cùng với sự vận động của một số nhân vật có thế giá trong
Giáo hội Việt Nam, chẳng hạn, vai trò quan trọng của Quan Thượng thư Nguyễn Hữu
Bài, một tín hữu Công giáo nhiệt thành,
[40]
ngày 20/5/1925, Đức Piô XI, “vị Giáo hoàng của các xứ truyền giáo”, đã ban hành
Tông sắc Ex Officio Supremo, công bố việc thiết lập Tòa Khâm sứ Đông
Dương (Delegatio Apostolica Indosinensis), trụ sở đặt tại Việt Nam bao gồm các
vùng đất: Việt Nam, Campuchia, Lào, Thái Lan và Chủng viện Pénang ở Malaisia.
Ngày 25/5/1925, Đức Piô XI bổ nhiệm Đức Tổng Giám mục Celse Constatino Ayuti
làm Khâm sứ thường trực đầu tiên của Tòa thánh tại Việt
2. Các Giám mục Việt
Với chủ trương chung của
Tòa thánh cho các xứ truyền giáo, những cuộc tấn phong giám mục cho Hàng giáo
sĩ bản xứ được thực hiện. Ngày 28/10/1926, sáu giám mục thế hệ đầu tiên của
Giáo hội Trung quốc được Đức Piô XI tấn phong tại Rôma.
[44]
Tại Việt Nam, với hoạt động của các Khâm sứ, lần lượt các giám mục Việt Nam được
tấn phong: Đức cha Gioan Baotixita Nguyễn Bá Tòng (1933), Đức cha Đaminh Hồ Ngọc
Cẩn (1935), Đức cha Phêrô Ngô Đình Thục (1938), Đức cha Gioan Phan Đình Phùng
[45]
(1940), Đức cha Tađêô Lê Hữu Từ (1945). Từ năm 1933, với Đức cha Gioan
Baotixita Nguyễn Bá Tòng, Tòa thánh đã từng bước chuẩn bị nhân sự giám mục bản
xứ đủ cho việc điều hành Giáo hội Việt
3. Bước tiến quan trọng cho việc thiết lập Hàng Giáo phẩm
Cho đến thời điểm này,
nhờ vào công lao của các Thừa sai, sự quan tâm đặc biệt của Tòa thánh, Giáo hội
Việt Nam đã có những bước phát triển mạnh mẽ và trở thành “con đầu lòng của Giáo hội tại Đông Dương” như lời Đức Piô
XI trong cuộc tiếp kiến sau Đại lễ tấn phong Giám mục cho Đức cha G.B Nguyễn Bá
Tòng tại Roma ngày 11/6/1933. Khởi đi từ năm 1933 này, nhiều Giáo phận tại Việt
nam được thành lập và được trao quyền điều hành cho các Giám mục Việt Nam; Tòa
Khâm sứ miền Đông dương đặt trụ sở tại Việt Nam; nhiều hoạt động lớn được tổ
chức như Công đồng miền Đông dương được tổ chức tại Hà Nội năm 1934.
[47]
Đặc biệt, một sự kiện lớn đánh dấu cho sự trưởng thành đủ của Giáo hội Việt
Nam, cách riêng của Hàng Giáo sĩ và Hàng Giáo phẩm Việt Nam, để như “dấu ấn”
Tòa thánh sử dụng, đóng xác nhận vào Tông sắc thành lập Hàng Giáo phẩm Việt
Nam, đó là sự kiện Đại Hội Thánh Mẫu năm
1959 tại Sài Gòn.
[48]
Năm 1959, vào dịp bế mạc Năm Thánh Mẫu quốc tế, kỷ niệm Bách
chu niên Đức Mẹ hiện ra tại Lộ Đức (1858-1958) và mừng 300 năm thành lập Giáo
hội Việt Nam, các giám mục quyết định tổ chức Đại hội Thánh Mẫu toàn quốc từ ngày 15/2 đến
18/2/1959. Đây là sự kiện mang tầm mức quan trọng đặc biệt đối với Giáo hội Việt
Đại hội là sự thể hiện
những nổ lực, sự chủ động của các Giám mục, Linh mục và Giáo dân Việt
Ngay cả Thánh lễ khai mạc
Đại hội lúc 17h00 ngày 15/2/1959 do Đức cha Simon Hòa Nguyễn Văn Hiền chủ sự. Tất
cả những diễn văn chào mừng Đức Hồng Y Đặc sứ Agagianian cũng do Đức cha Simon
Hiền và cha Giuse Nguyễn Văn Thiên đại diện phát biểu.
Đại Hội Thánh Mẫu diễn
ra thật long trọng từ Chúa nhật 15/2/1959 đến thứ tư 18/2/1959 với sự chủ tọa của
Đức Hồng Đặc sứ Gregorio Pietro Agagianian, thay mặt cho Đức Giáo Hoàng Gioan
XXIII. Khách mời quốc tế tham dự Đại hội với 20 Giám chức gồm: các Đức Tổng
Giám mục, Giám mục, các Đức ông thuộc các Giáo hội bạn và các Vị Khâm sứ tại Á
đông.
[49]
Qua diễn tiến của Đại Hội, qua những cuộc thăm viếng của mục vụ tại Sài Gòn và
tại các Giáo phận, Đức Hồng Y đặc sứ đã chứng kiến một sức sống mãnh liệt trong
lòng Giáo hội Việt Nam. Qua những thông điệp, những diễn văn phát biểu trong Đại
hội và qua những điện văn báo cáo về Tòa thánh và những bức điện tín sau khi đã
rời Việt Nam về lại Roma, Đức Hồng y Agagianian đã hết lời khen ngợi Giáo hội
Việt Nam, khen ngợi Hàng Giáo sĩ, đặc biệt các Giám mục Việt Nam. Cũng cần nói
thêm rằng, khi đến Việt Nam chủ tọa Đại Hội Thánh Mẫu năm 1959, Đức Hồng y Gregorio
Pietro Agagianian đang là Quyền Bộ trưởng Thánh bộ truyền giáo. Năm 1960, khi
thành lập Hàng Giáo phẩm Việt
C. Thiết lập Hàng Giáo phẩm Việt Nam
Với diễn tiến lịch sử vừa
được trình bày, điều kiện cần và đủ cho việc thiết lập Hàng Giáo phẩm Việt
- Hà Nội với 10 giáo phận:
Hà Nội, Lạng Sơn, Hải Phòng, Bắc Ninh, Hưng Hóa, Thái Bình, Bùi Chu, Phát Diệm,
Thanh Hóa, Vinh.
- Huế với 4 giáo phận:
Huế, Quy Nhơn, Nha Trang, Kon Tum.
- Sài Gòn gồm 6 giáo phận: Sài Gòn, Vĩnh Long, Cần Thơ, Đà Lạt, Mỹ
Tho, Long Xuyên.
Sau khi đón nhận tin vui
từ Đức Giáo hoàng Gioan XXIII và Tòa Thánh, niềm vui nhanh chóng lan tỏa trong
toàn Giáo hội Việt
Thay lời kết
Chúng ta đang sống trong
Năm Thánh 2010. Nhìn lại diễn tiến của sự kiện thành lập Hàng Giáo phẩm Việt
Cũng vì tiến trình lịch
sử lâu dài và phức tạp như thế, sự kiện thành lập Hàng Giáo phẩm đem lại niềm
vui trọng đại cho các Tín hữu Việt
Trong Sứ điệp ngày
14/1/1961, gởi Hàng Giáo phẩm Việt
Nhìn lại lịch sử thành lập
Hàng Giáo phẩm, chúng ta nhận ra dấu chỉ Hồng ân và tình thương của Thiên Chúa
qua tác động của Chúa Thánh Thần, qua sự quan phòng kỳ diệu của Thiên Chúa
xuyên suốt dòng lịch sử của Giáo hội Việt Nam. Từ những định hướng, những chỉ
thị truyền giáo của Tòa thánh, chúng ta có thêm những chứng cứ lịch sử vững chắc
để phủ quyết những quan niệm bảo thủ cho rằng: “Công giáo là tôn giáo của người ngoại quốc, người cải đạo sang Công
giáo là người không còn trung thành với dân tộc của mình, là người phục tùng
đòi hỏi và sự thống trị của quyền lực ngoại bang”, như ĐGH Bênêdictô XV đã
nhắc đến trong Tông thư Maximum illud.
Mừng Năm Thánh 2010,
nhìn lại quá khứ với biết bao ơn lành Chúa đã thương ban, chúng ta cùng hát bài
ca tri ân: “Xin dâng lời cảm tạ, hồng ân Chúa bao la”.
Mừng
sinh nhật thứ 100 Đức Tổng Phaolô Nguyễn văn Bình
Vị
Tổng Giám Mục tiên khởi Tổng Giáo phận Sài Gòn
Sài
Gòn, ngày 1/9/2010
Lm Phêrô
Nguyễn Thanh Tùng
[1]
“Hàng Giáo Phẩm Việt
[2]
Thư
Hội đồng Giám mục Việt Nam gửi Cộng đồng Dân Chúa công bố Năm Thánh 2010, số
1.
[3]
Xem Lm Phêrô Nguyễn THANH TÙNG, Lịch sử thành lập Hàng Giáo phẩm Việt
[4]
Xem Lịch
sử thành lập Hàng Giáo phẩm Việt
[5]
HĐGMVN, Ủy Ban Văn Hóa, “Hai Tổ phụ của
Giáo hội Công giáo Việt Nam”, trong Dấu ấn
350 năm Giáo hội Công giáo Việt Nam, Nxb Phương đông, 2010, tr. 14-19.
[6]
Xem Lịch
sử thành lập Hàng Giáo phẩm Việt
[7]
Sđd, tr 287.
[8]
Additions
aux Instruction là bản văn được Đc. Pallu viết tại Ispahan (Ba tư) trên đường
đi đến Á Đông, được gởi cho các nhà truyền giáo tại Trung quốc, Đàng Trong và
Đàng Ngoài để chỉ dẫn cho những cuộc hành trình truyền giáo, những vấn đề liên
quan tại vùng đất truyền giáo, nhất là tại Đàng Ngoài. Tài liệu này hoàn tất
ngày 10 tháng 9 năm 1662.
[9]
Lettres
de Monseigneur Pallu, écrites de 1654 à 1684, Les Indes Savantes, MEP,
2008, tr. 34.
[10]
AMEP, vol. 204, tr. 435 ; vol.
274, tr. 56 ; Adrien LAUNAY, Histoire de la mission de Cochinchine, quyển.
1, tr. 229-230, “Sur la création d’évêques indigènes”.
[11]
AMEP, vol. 130, tr. 293 ; vol.
102, tr. 147.
[12]
AMEP, vol. 130, p. 285 ; vol.
249, trang 45, vol. 204, tr. 435 ; vol. 274, tr. 56; Adrien LAUNAY, Histoire
de la mission du Tonkin, tr. 179 ; Adrien LAUNAY, Histoire de la
mission de Cochinchine, quyển. 1, tr. 229-230.
[13]
[14]
AMEP, vol. 204, tr. 641 ;
vol. 276, tr. 388 ; Adrien LAUNAY, Histoire de la mission du Tonkin, tr.
453.
[15]
Ngày 25-11-1679, Tòa thánh phân chia
Giáo phận Đàng Ngoài thành hai Giáo phận: Tây Đàng Ngoài (Hà Nội) do Đc.
Jacques de
[16]
Cũng trong thời gian này, Đc.
Lo-Wan-tsao, vị Giám mục tiên khởi của Giáo hội Trung Hoa đã được tấn phong
ngày 8/4/1685.
[17]
AMEP, vol. 854, tr. 194 ;
Adrien LAUNAY, Histoire de la mission du
[18]
André MARILLIER, Nos pères dans la foi, Notes sur le clergé catholique du Tonkin de
1666 à 1765, quyển 2, tr. 21-22.
[19]
Xem Lịch
sử thành lập Hàng Giáo phẩm Việt
[20]
Huấn thị Neminem profecto, được dịch
và đăng trong báo L’Ami de la religion et
du roi, Paris, A. Le Clere, (Tờ báo đề cập đến những vấn đề về Giáo hội, về
chính trị và văn chương, phát hành ba số trong một tuần), quyển 129, tháng
5-1846, tr. 301-307 và tr. 321-327.
[21]
“Về việc truyền bá đức tin trong toàn thế giới”.
Bản dịch Tông thư bằng tiếng Pháp được in trong: La Documentation Catholique,
quyển 2, ngày 27/12/1919, tr. 802-807. Xem Repères pour la mission chrétienne,
Cinq siècles de tradition missionnaire. Perspectives œcuméniques, Textes réunis
et introduits par Klauspeter Blaser, Nxb. Cerf/Labor et fides, năm 2000, tr.
32-35.
[22]
[23]
Sđd,
tr. 804.
[24]
“Về Sứ mệnh của Giáo hội”. Thông điệp này được dịch sang tiếng
Pháp và in trong:
[25]
[26]
[27]
[28]
Ðức Piô XII, Thông Ðiệp Evangelii Praecones ngày 2-6-1951: AAS 43 - 1951 -
497-528.
[29]
[30]
Ad Gentes, số 6; Xem Sứ điệp của ĐGH Gioan-Phaolô II gởi Các Giám
mục Việt
[31]
Xem Lịch
sử thành lập Hàng Giáo phẩm Việt
[32]
Xem Adrien LAUNAY, Histoire de la
mission de Cochinchine, quyển. 2, tr. 45-46.
[33]
Đức cha Costa là người Ý, thuộc dòng
Augustinô. Năm 1730, ngài đã làm Khâm sứ kinh lược ở Đàng Ngoài, sau đó được bổ
nhiệm làm Giám mục Đại diện Tông tòa Đông Đàng Ngoài (1636-1754)
[34]
Đức cha Henry Lécroat sinh ngày
4-11-1864 tại
[35]
Xem Biên bản cuộc họp các Giám mục Đàng
Ngoài “Réunion des évêques du Groupe du
Tonkin à Phát Diệm sous la présidence de Monseigneur Lécroart, visiteur
Apostolique des missions d’Indochine” do vị thư ký cuộc họp, Đức cha André
Eloy, tên Việt là Bắc, Giám mục Đại diện Tông tòa Giáo phận Vinh (1912-1946).
[36]
Xem Biên bản cuộc họp các Giám mục Đàng
Ngoài “Réunion des évêques du Groupe du
Tonkin à Phát Diệm sous la présidence de Monseigneur Lécroart, visiteur
Apostolique des missions d’Indochine” do vị thư ký cuộc họp, Đức cha André
Eloy, tên Việt là Bắc, Giám mục Đại diện Tông tòa Giáo phận Vinh (1912-1946).
[37]
Biên bản: “Réunion des évêques du Groupe du Tonkin à Phát Diệm sous la présidence
de Monseigneur Lécroart, visiteur Apostolique des missions d’Indochine”.
[38]
[39]
Xem Lịch
sử thành lập Hàng Giáo phẩm Việt
[40]
Xem Lịch
sử thành lập Hàng Giáo phẩm Việt
[41]
Sđd,
tr 89-113.
[42]
Sđd,
tr 83-88.
[43]
Sđd,
113-151.
[44]
Đây là thành quả hoạt động của Đức Celse
Constatino Ayuti trong thời gian ngài làm Khâm sứ tại Trung quốc trước khi được
bổ nhiệm làm Khâm sứ miền Đông dương tại Việt
[45]
Đức cha Gioan Phan Đình Phùng qua đời
ngày 28-5-1944.
[46]
Giáo phận Nha Trang với Đức cha Marcel
Piquet, tên Việt Nam là Lợi, qua đời ngày 11-7-1966 và Giáo phận Kontum với Đức
cha Paul Léo Seitz, tên Việt là Nguyễn Thượng Kim, làm Giám mục Kontum ngày
19-6-1952, bị trục xuất khỏi Việt Nam ngày 15-8-1975.
[47]
Xem Lịch
sử thành lập Hàng Giáo phẩm Việt
[48]
Xem Lịch
sử thành lập Hàng Giáo phẩm Việt
[49]
Hai mươi vị Giám chức gồm:
- 4 vị
Philippines: Đức cha Ruffino Santos, Tổng Giám mục Giáo phận Manila – Đức cha
Edigio Vagnozzi, người Ý, là Sứ thần Tòa thánh tại Philippines – Đức cha
Alexandro Alalia, Giáo phận Lipa – Đức ông Thomas Q. Avenido, Tổng Đại diện
giáo phận Dumaguete, đại diện cho Đức cha Epifanio Surban.
- 2 vị
Malaysia: Đức cha Michel Olcomendy, người Pháp, Tổng Giám mục Giáo phận
Malacca-Singapore – Đức cha Phanxico Chang, Giám mục Pénang. - 2 vị Hàn quốc: Đức cha Phaolo Ro, Giám mục
Giáo phận Colbasa – Đức cha Bartholomeo Kim, Giám mục Giáo phận
- 2 vị Thái
Lan: Đức cha Pierre Carreto, Giám mục Giáo phận Rajabury – Đức ông John Gordon,
đại diện cho Đức Khâm sứ tại Thái Lan và Malaysia.
- 2 vị Lào: Đức
cha Stephano Loosdregt, Giám mục giáo phận
- 2 vị
- 1 vị Trung
hoa: Đức cha Phaolo Yu-Pin, Cựu Tổng Giám mục Giáo phận Nam Kinh.
- 1 vị Pháp: Đức
cha Jean Rupp, Giám mục phó
- 1 vị
Campuchia: Đức cha Gustave Raballand, Giám mục giáo phận Nam Vang.
- 1 vị
Hongkong: Đức cha Loresso Bianchi, Giám mục giáo phận Hongkong.
- 1 vị
[50]
Xem Lịch
sử thành lập Hàng Giáo phẩm Việt
[51]
Sylloge
preacipiorum documentorum recentium Summorum Pontificum et S.C de Prop. Fide,
Urbianiana I, Roma, Typis Polyglottis Valicanis 1939, tr. 118.
[52]
Xem Lịch
sử thành lập Hàng Giáo phẩm Việt
[53]
Xem Lịch
sử thành lập Hàng Giáo phẩm Việt